Về các vụ gián điệp giả tưởng tại miền Nam do các văn công cộng
sản sáng chế, trước hết chúng tôi xin trình bày lại vai trò của Phạm Ngọc Thảo,
sau đó sẽ nói đến vụ Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng, và vụ Phạm Xuân Ẩn.
Các viên chức tại miền Nam biết về Phạm Ngọc Thảo khá nhiều,
nhưng người biết rõ nhất có lẽ là ông Huỳnh Văn Lang, hiện đang ở tại Orange
County. Ông là bí thư liên kỳ bộ của đảng Cần Lao và là người đã kết nạp Phạm
Ngọc Thảo vào đảng Cần Lao năm 1956 dưới sự bảo trợ của Trần Văn Trị và Dương Chí
Sanh. Sau khi cuộc đảo chánh ngày 19 tháng 2, 1965 thất bại, chính ông Huỳnh
Văn Lang là người đã đưa Phạm Ngọc Thảo lên làng Đại Học Thủ Đức trốn, và sau
đó đưa đến ẩn náu trong dòng Châu Sơn ở Cát Lái.
Chuyện Phạm Ngọc Thảo đã được chúng tôi kể khá dài trên
Saigon Nhỏ ngày 8 tháng 7, 2005. Ở đây chúng tôi chỉ ghi lại những nét chính với
một vài thông tin mới để độc giả có thể thấy Phạm Ngọc Thảo không phải là “một
điệp viên siêu hạng” như đã mô tả trong bộ phim “Ván bài lật ngửa.”
Tuy nhiên, trước khi đề cập đến chuyện Phạm Ngọc Thảo, chúng
tôi xin nói qua khái niệm về tổ chức tình báo của Hà Nội tại miền Nam.
Tổ chức tình báo của
Hà Nội
Sau hiệp định Genève 1954, Hà Nội đã cho lập Ban Địch Tình của
Xứ Ủy Phía Nam để tổ chức và lãnh đạo mạng lưới tình báo chiến lược tại miền
Nam do Văn Viên phụ trách. Đoàn Công Tác Đặc Biệt đã phá vỡ Ban Địch Tình của Xứ
Ủy Phía Nam và bắt tên cầm đầu là Mười Hương, tên thật là Trần Ngọc Ban. Cục
Tình Báo Chiến Lược Hà Nội phải tổ chức lại mạng lưới tình báo tại miền Nam. Mạng
lưới này được chia thành nhiều “Cụm tình báo chiến lược.”
Gọi là Cụm Tình Báo Chiến Lược vì do Cục Tình Báo Chiến Lược
ở Hà Nội tổ chức và điều hành chứ không phải do các tổ chức tình báo địa
phương. Mỗi cụm có 3 người thành một “tổ tam tam” gồm một phái khiển (agent
handler), một cán bộ và một cơ cán. Phái khiển được coi như tổ trưởng, có nhiệm
vụ thu lượm tin tức và lập báo cáo bằng mật mã. Cán bộ là người chuyển báo cáo
của phái khiển đến cơ cán. Cơ cán có nhiệm vụ giao thông liên lạc, chuyển tài
liệu đi.
Một thí dụ cụ thể: Chúng ta thường nghe Hà Nội nói nhiều đến
“Cụm tình báo chiến lược A.22” như là một cụm tình báo quan trọng ở Sài Gòn,
nhưng thực tế không phải vậy. Cụm này chỉ là một cụm tình báo nhỏ hoạt động
trong Sở Đào Kinh thuộc Bộ Công Chánh ở Sài Gòn. Cụm này gồm có: Dư Văn Chất (tự
Văn Tiến Mạnh, hoặc Nguyễn Trọng Văn) làm phái khiển, Vũ Ngọc Nhạ làm cán bộ và
Phạm Văn Đường làm cơ cán. Cả ba đều là thư ký đánh máy công nhật B3 ở Sở Đào
Kinh thuộc Bộ Công Chánh, do kỹ sư Nguyễn Sỹ Cảnh làm chánh sự vụ. Kỹ sư Cảnh
là cha vợ của Cao Đăng Chiếm. Ba tên này đã được kỹ sư Cảnh tuyển dụng.
Năm 1959, cụm tình báo này đã bị tóm gọn, kể cả kỹ sư Nguyễn
Sỹ Cảnh. Tuy nhiên, sau khi được cải tạo tại trại Tòa Khâm, Huế, Vũ Ngọc Nhạ đã
chuyển hướng và đồng ý hợp tác nên năm 1961 đã được phóng thích và đưa về Sài
Gòn dưới danh nghĩa một cán bộ hồi chánh bị quản chế, hàng tháng phải trình diện
cơ quan an ninh, nhưng trong thực tế Nhạ đã hoạt động đắc lực cho Đoàn Công Tác
Đặc Biệt trong công tác lấy tin tức.
Tính chung, chỉ trong vòng một năm, Đoàn Công Tác Đặc Biệt
đã phá vỡ được hầu hết các cơ sở quan trọng của cộng sản hoạt động tại miền Nam
Việt Nam như Đảng Bộ Liên Khu V, Đặc Khu Ủy Sài Gòn Chợ Lớn, Thành Ủy Đà Nẵng,
Tỉnh Ủy Quảng Trị, Thành Ủy Huế, Tỉnh Ủy Quảng Nam, Tỉnh Ủy Phú Yên, Tỉnh Ủy
Long An, Tỉnh Ủy Phước Long, Tỉnh Ủy Cần Thơ v.v..
Nhân vật Phạm Ngọc Thảo
Trong bộ phim “Ván bài lật ngửa,” Nguyễn Thành Luân đã đóng
vai Phạm Ngọc Thảo như là “một điệp viên siêu hạng,” đã đóng vai trò cố vấn về
chính sách quốc gia cho các nhân vật lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Nhưng sự
thật như thế nào?
Phạm Ngọc Thảo, có tên Pháp là Albert Thảo, sinh ngày 14
tháng 2, 1922 tại Sài Gòn, nguyên quán Vĩnh Long. Năm 1945 Thảo đi theo kháng
chiến và làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 404 (có tài liệu nói tiểu đoàn 420) rồi
trưởng phòng Mật Vụ Nam Bộ.
Sau hiệp định Genève, Thảo không tập kết ra Bắc mà ở lại miền
Nam như một cán bộ hồi chánh. Qua trung gian của người em ruột là Marguerite Phạm
Ngọc Thuần, Thảo được đưa xuống Vĩnh Long gặp Đức Giám Mục Ngô Đình Thục nhờ
giúp đỡ. Bà Thuần là vợ của ông Trần Văn Minh, em ruột ngoại trưởng Trần Văn Đỗ.
Ông Đỗ là chú của bà Ngô Đình Nhu.
Thấy Thảo có học vấn khá, Giám Mục Thục đã giới thiệu Thảo với
ông Nhu. Thảo tỏ ra hiểu biết về các hoạt động của đám Việt Cộng nằm vùng, nên
ông Nhu quyết định cho Thảo mang cấp bậc đại úy đồng hoá và đưa Thảo đi làm tỉnh
đoàn trưởng Bảo An Vĩnh Long, sau đó về làm tỉnh đoàn trưởng Bảo An Bình Dương.
Hoạt động bình định của Thảo rất thành công.
Khi Khu Trù Mật mới được thành lập, đầu năm 1961, ông Diệm
đã cho Thảo được thăng lên trung tá và cử làm tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hòa để trắc
nghiệm, nhưng ông Nhu đã cho nhân viên tình báo theo dõi rất sát, vì nghi Thảo
là gián điệp hai mang. Thảo đã làm cho tỉnh Bến Tre thành một khu vực yên tĩnh
khác thường. Nhưng vì có nhiều báo cáo cho biết Thảo thường liên lạc với Việt Cộng,
nên ông Diệm đã ngưng chức tỉnh trưởng Kiến Hòa của Thảo và cho qua Hoa Kỳ học
một khóa về chỉ huy và tham mưu như hầu hết các sĩ quan cấp tá khác. Sau khi Thảo
đi, tỉnh Bến Tre lại bị mất an ninh nghiêm trọng. Điều này khiến ông Nhu tin rằng
Thảo được Việt Cộng yểm trợ trong thời gian làm tỉnh trưởng Bến Tre nên quyết định
thành lập một đơn tuyến (single placement) và dùng Thảo để liên lạc trực tuyến
với “phía bên kia.”
Ngày 23 tháng 3, 1962, Phạm Ngọc Thảo vừa đi Mỹ về, liền được
cử làm thanh tra Ấp Chiến Lược. Thảo đã đưa nhiều ý kiến chống sự xâm nhập của
Việt Cộng rất xuất sắc.
Tháng 10 năm 1963, khi Hoa Kỳ bắt đầu xúc tiến cuộc đảo
chánh lật đổ ông Diệm, đại sứ Cabot Lodge đã đánh về Washington nhiều công điện
báo cáo Phạm Ngọc Thảo, Huỳnh Văn Lang và Trần Kim Tuyến âm mưu tổ chức đảo
chánh. Các công điện này đều được để lọt cho ông Nhu biết. Nhưng ông Nhu cho rằng
đây chỉ là trò nghi binh của ông Lodge. Ông hỏi ông Cao Xuân Vỹ: “Thằng Thảo lấy
quân đâu mà đảo chánh?” Biết rõ Mỹ chỉ dùng Phạm Ngọc Thảo như là một thứ nghi
binh, nhưng điều đáng tiếc là ông Diệm ông Nhu không bao giờ nghi CIA lại dùng
hai người thân tín nhất của hai ông là tướng Trần Thiện Khiêm và đại tá Nguyễn
Văn Thiệu để lật đổ chế độ!
Sau đảo chánh ngày 1 tháng 11, 1963, Phạm Ngọc Thảo được
thăng lên đại tá và làm tùy viên báo chí cho Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng,
nhưng các tướng lãnh đảo chánh đều nghi Thảo là điệp viên của CIA, một thành phần
nguy hiểm, nên sau đó đã đẩy Thảo đi làm tùy viên văn hóa tại tòa đại sứ Việt
Nam ở Washington để “trừ hậu hoạ!”
Vụ án Phạm Ngọc Thảo
Khi muốn loại bỏ tướng Nguyễn Khánh, CIA đã bí mật đưa Phạm
Ngọc Thảo về Sài Gòn. Tướng Khánh cho tôi biết khi Thảo đánh diện xin về nước,
ông đã từ chối và ra lệnh cho các cơ quan an ninh ngăn chận không cho Thảo nhập
cảnh bất cứ cửa khẩu nào. Không hiểu sao, khoảng hai tuần sau, ông được báo cáo
Thảo đã có mặt tại Sài Gòn. Ông nghi Mỹ đã đưa Thảo xuống phi trường Cam Ranh rồi
từ đó đưa về Sài Gòn.
Chỉ ít lâu sau, Thảo đã kết hợp được với tướng Lâm Văn Phát
tổ chức đảo chánh ngày 19 tháng 2, 1965. Cuộc đảo chánh này thất bại, nhưng
theo sự chỉ đạo của CIA, trong cuộc họp ngày 21 tháng 2, 1965 tại Biên Hòa, các
tướng lãnh đã quyết định giải nhiệm tướng Khánh và cho đi làm đại sứ lưu động.
Thấy Phạm Ngọc Thảo quá nguy hiểm, tướng Nguyễn Văn Thiệu, mới
lên nhận chức chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, đã ra lệnh phải truy lùng và hạ
sát Phạm Ngọc Thảo bằng mọi giá. Ông Huỳnh Văn Lang, người kết nạp Thảo vào đảng
Cần Lao, đã đưa Thảo lên làng Đại Học Thủ Đức trốn, sau đó đưa qua ẩn nấp tại dòng
Châu Sơn ở Cát Lái. Vì sự sơ hở của linh mục Trần Ngọc Nhuận, chánh xứ Phát Diệm
ở Phú Nhuận, cơ quan an ninh khám phá ra Thảo đang trốn ở Cát Lái. Thảo thấy bị
động đã bỏ dòng Châu Sơn trốn ra ở một nhà dân. Nhưng nhân viên an ninh cũng
khám phá ra. Ngày 16 tháng 7, 1965, Thảo đã bị bắt tại Cát Lái lúc trời gần
sáng, bị đưa về Hố Nai, Biên Hòa, và bị bắn nằm gục ở một khu trống vắng. Nhưng
Thảo chưa chết. Khi thấy có người đi qua, Thảo rên xiết nên đã được người này
đưa về một cơ quan Công Giáo gần đó nhờ cứu chữa. Nơi đây nguời bị thương cho
biết anh ta là đại tá Phạm Ngọc Thảo.
Nhân viên An Ninh Quân Đội theo dõi tình trạng của Thảo, biết
Thảo còn sống và đang được cứu chữa, nên đã đến bảo lãnh và xin đưa về Nha An
Ninh Quân Đội ở Sài Gòn.
Thảo đã từ trần lúc 1 giờ 30 sáng 17 tháng 7, 1965 tại Nha
An Ninh Quân Đội và được báo cáo là đã chết vì ra máu quá nhiều, nhưng một nguồn
tin bên trong nói Thảo đã bị bóp “dế” chết. Chúng tôi đã phỏng vấn nhiều nhân
chứng về vụ này. Đây là một câu chuyện khá ly kỳ, chúng tôi sẽ mô tả vào một dịp
khác.
Có thể nói Phạm Ngọc Thảo là “gián điệp tam trùng” (triple
agent - danh từ của Joby Warrick), vừa làm gián điệp cho Việt Cộng, vừa làm nhân
viên phản gián cho ông Ngô Đình Nhu và vừa hoạt động cho CIA. Ông Nhu biết Thảo
là gián điệp cộng sản nên đã sử dụng Thảo làm cán bộ liên lạc trực tuyến, nhưng
cho theo dõi rất kỹ, làm sao Thảo có thể lũng đoạn chính sách quốc gia của VNCH
được?
Thảo chỉ là con bài của ông Nhu và sau đó trở thành con bài
của CIA mà thôi. Thảo đã bị giết như thân phận của một con bài, xài xong rồi bỏ.
(Còn tiếp)
Ngày 12.6.2012
Lữ Giang/MotGocTroi.com