> Phần 1
> Phần 2
Trong Phần III của bút ký “Gặp Chúa trong tù cải tạo,” Tướng
Nguyễn Hữu Có nói về cách sống đạo của ông sau khi đã theo Chúa, nhưng một số độc
giả lại hỏi chúng tôi rằng Tướng Có đã tham gia cuộc đảo chánh 1963 như thế nào
mà sau khi đảo chánh thành công, ông được lên mau như vậy.
Tướng Nguyễn Hữu Có và Tướng Nguyễn Văn Thiệu đều học khoá sỹ
quan Đập Đá ở Huế 1947-1948. Ông Có đậu thủ khoa. Cả hai ông cùng được Tổng Thống
Ngô Đình Diệm gởi đi học khóa “Command and General Staff College” ở Fort
Leavenworth, Kansas, tại Hoa Kỳ 1957-1958. Có lẽ cả hai đã được CIA móc nối từ
lúc đó và sau này giao cho chỉ huy hai sư đoàn “bảo vệ thủ đô” tấn công vào Sài
Gòn để lật đổ ông Diệm. Vấn đề này chúng tôi đã trình bày chi tiết trong một cuốn
sách sắp xuất bản. Ở đây chúng tôi chỉ ghi lại những nét chính.
Để bảo vệ Thủ Đô, vào những ngày sắp bị tấn công, ông Ngô
Đình Nhu đã giao cho Quân Đoàn III chỉ huy luôn Sư Đoàn 7 ở Định Tường và cử Đại
Tá Lâm Văn Phát làm tư lệnh sư đoàn này thay Đại Tá Bùi Đình Đạm. Ông Nhu nghĩ
rằng Sư Đoàn 5 giữ phía Bắc và Sư Đoàn 7 giữ phía Nam sẽ tạo thành một “thế gọng
kềm Nam-Bắc” bảo vệ Thủ Đô khi có nguy biến. CIA biết rõ điều đó, nên đã biến
hai sư đoàn này thành hai lực lượng chính thực hiện cuộc đảo chánh. Sư đoàn 5 mở
cuộc tấn công trước, nếu không thanh toán nổi, sư đoản 7 sẽ tiếp ứng.
Đại Tá Phát được lệnh của ông Nhu phải đến trình diện Quân
Đoàn III vào ngày 30 hay 31.10.1963 và đến nhận chức ở Mỹ Tho vào ngày
1.11.1963. Nhưng khi đến trình diện ở Quân Đoàn III, Đại Tá Phát đã bị nhóm thuộc
đơn vị tham mưu do Đại Tá Nguyễn Hữu Có chỉ huy, bí mật giữ lại tại Quân Đoàn
III trước khi Trung Tá Nguyễn Khắc Bình tố cáo với ông Nhu rằng Đại Tá Có rủ rê
ông tham gia đảo chánh. Tướng Trần Văn Đôn cho biết:
Tối ngày 31 tháng 10, sau khi dùng cơm ở nhà hàng Trung Hoa,
Tướng Weede, Tham Mưu Trưởng của Tướng Harkins, ông có ghé thăm Tướng Đính tại
Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III vào lúc 11 giờ 30 và nói quyết định của ông đưa Đại Tá
Nguyễn Hữu Có xuống làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 kể từ ngày 1.11.1963. Trưa 1.11.1963,
Tướng Đính gọi điện yêu cầu Tướng Trần Văn Đôn ra lệnh cho Đại Tá Đạm bàn giao
Sư Đoàn 7 cho Đại Tá Có. Tướng Đôn đã ra lệnh ngay.
Thiếu Tá Trần Ngọc Giang, Trưởng Phòng An Ninh Quân Đội Bộ Tổng
Tham Mưu, nguyên là Chánh Văn Phòng của Tướng Khiêm, cho biết sáng sớm ngày
31.10.1963 (thật ra là sáng 1.11.1963) Thiếu tướng Khiêm gọi ông lên văn phòng.
Khi ông bước vào thì thấy Đại Tá Nguyễn Hữu Có đã có mặt ở đó. Thiếu Tướng
Khiêm chỉ thị cho ông cầm công điện hỏa tốc đi cùng với Đại Tá Có xuống Mỹ Tho
để bàn giao chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 hiện do Đại Tá Bùi Đình Đạm làm tư lệnh.
Ông nói rằng sở dĩ Thiếu Tướng Khiêm ra lệnh cho ông đi với Đại Tá Có là để Đại
Tá Đạm tin rằng đó lệnh thật do chính Thiếu Tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân ký
vì Đại Tá Đạm từng biết sự thân cận giữa Thiếu tướng Khiêm và ông.
Như vậy, cái “thế gọng kìm Nam-Bắc” mà ông Nhu thành lập để
bảo vệ Thủ Đô đã bị CIA biến thành cái gọng kìm đánh sập chế độ. Ông Nhu không
hề hay biết gì về chuyện này. Biết rõ những diễn biến đó, chúng ta sẽ hiểu tại
sao Tướng Có lên mau như thế.
Làm theo lệnh của CIA, sau khi thi hành xong “sứ mạng,” Tướng
Có bị loại, còn Tướng Thiệu làm mất miền Nam. Những ngày cuối đời, Tướng Có đã
sám hối, còn Tướng Thiệu vẫn kênh kênh... không hề biểu hiện một tâm tình ăn
năn nào.
Tướng Có nói về cách sống đạo của mình khá dài, chúng tôi chỉ
ghi lại một số đoạn chính.
GẶP CHÚA TRONG TÙ CẢI
TẠO
Tác giả: Trung Tướng Nguyễn Hữu Có
(Phần cuối)
Sau khi tin Chúa
Những thay đổi bước đầu
Sau khi tin Chúa, tôi cảm thấy vui mừng trong nội tâm. Vui mừng
vì tất cả tội lỗi của mình trong quá khứ đã được Chúa tha thứ tẩy sạch. Đó là một
gánh nặng mà tôi phải mang cho đến chết nếu không được Chúa cứu. Lời Chúa trong
Kinh Thánh còn hứa chắc chắn rằng Ngài dành cho tôi một chỗ ở trên Thiên Đàng
khi linh hồn tôi rời bỏ trần thế nầy. Trước đây khi còn thờ hình tượng, không
có đấng nào dám hứa với tôi như thế. Tôi quyết tâm ăn năn tội lỗi, sống một cuộc
sống mới, thanh sạch gương mẫu. Tôi tuyệt nhiên không hút thuốc lá, uống rượu,
cờ bạc là những điều dễ vấp phạm trong hoàn cảnh buồn khổ ở trại giam. Được lời
Chúa dạy dỗ, nhắc nhở hằng ngày, tôi sống vui vẻ và hạnh phúc hơn, được tình
thương yêu lớn lao của Chúa bao bọc, tôi nhìn bạn bè xung quanh tôi với sự yêu
thương chân thật. Tôi luôn luôn tìm cách giúp đỡ bạn bè trong các công việc lặt
vặt như vá quần áo, sữa chữa đồ dùng (tôi được anh em khen là khéo tay). Tôi
tích cực chia sẻ công việc khó khăn, nặng nhọc ở buồng như vét giếng, sửa nhà
v.v.. Đối với bạn bè nóng tính, tôi luôn luôn nhường nhịn và sẵn sàng tha thứ mỗi
khi bị xúc phạm. Tôi sẵn sàng chia sẻ những gì tôi có cho bạn bè thiếu thốn từ
thức ăn, thuốc uống cho đến các nhu cầu khác...
...
Mục sư Dương Kỳ cắt cử Mục sư Võ Ngọc Thiên Lộc phụ trách
chăn giử nhóm tín hữu buồng 3 của chúng tôi. Tôi rất quý mến Mục sư Lộc, người
còn trẻ chưa lập gia đình, tánh tình cởi mở, rộng rãi, hào phóng. Mục sư Lộc rất
được ơn trước mặt Chúa. Hằng tuần đều cố gắng trèo rào vô buồng nhóm họp thờ
phượng rao giảng Lời Chúa cho chúng tôi.
Một điều lạ lùng ngoài sức tưởng của tôi là Chúa đã gìn giữ,
che chở cho chúng tôi được bình an trong suốt 229 tuần lể kể từ ngày tôi tiếp
nhận Chúa đến ngày tôi được tha về với gia đình (2-9-1987). Bình thường, mọi sự
xuất nhập ở buồng 3 chỉ trong khoảng khắc là được hệ thống báo cáo viên đặt ở
các buồng chung quanh chúng tôi trình lên cán bộ ngay. Điển hình là đã có 4 anh
em tướng lãnh vừa ra khỏi buồng 3 để liên hệ với bạn bè thì bị cán bộ trực trại
xuống tập họp điểm danh làm kiểm điểm ngay. Đó là các tướng Trần Bá Di, Hồ
Trung Hậu, Lam Sơn, Trần văn Cẫm. Thế nhưng trong suốt 229 tuần lễ, Mục sư ra
vào buồng sinh hoạt tôn giáo với anh em Cơ Đốc Nhân chúng tôi thì được Chúa che
chở bình an vô sự.
...
Được che chở nhờ đức
tin
Giữa năm 1985, nhà tôi ra trại Nam Hà thăm nuôi. Tôi được
tin nầy từ chiều hôm trước và chuẩn bị sáng hôm sau ra gặp vợ. Tối hôm ấy, một
số anh em ngỏ ý xin tôi cho gửi thư về nhà. Đây là loại thư mang tay viết ngắn
gọn để xin thuốc men, lương thực. Việc làm nầy đầy rủi ro bất trắc. Nếu ra cổng
trại bị khám xét có thư trong người thì sẽ bị đuổi trở vô, không cho ra gặp người
thân. Thật ra nếu tôi từ chối thì anh em cũng thông cảm thôi, nhưng tôi cậy ơn
Chúa che chở, bảo anh em cứ viết cho thật ngắn gọn, sáng mai sẽ tùy cơ ứng biến.
Tôi cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ, che chở cho tôi mang thư ra được bình an. Tôi
cảm thấy lòng nhẹ nhàng, bình an, tin quyết nơi Chúa.
Sáng hôm sau tôi nhận 12 lá thư xếp nhỏ gọn để dễ mang ra trại.
Thay vì cất giấu trong người, tôi nghĩ ra một cách là cầm gọn trong tay trái, nếu
cán bộ bắt giữ thì có cớ nói mang ra công khai để xin phép cán bộ chớ không có
ý gian. Với ý nghĩ đó, tôi mạnh dạn bước ra cổng trại theo các anh em đi thăm
nuôi. Hôm đó trời mưa lấm tấm, tôi mang theo áo mưa khoác ở tay trái. Khi đến
trước mặt cán bộ trực trại, anh ta hỏi: "Anh có mang theo thư từ gì ra
ngoài không?" Tôi không dám nói dối, vì nói dối là vấp phạm. Tôi bình tĩnh
trả lời, xin cán bộ cứ khám xét người tôi, vừa nói tôi vừa giơ hai tay lên cao
đưa người cho anh ta khám. Anh ta nhìn vào mắt tôi để dò xét rồi sờ mó qua người
tôi từ trên xuống dưới, xong bảo tôi đi. Qua khỏi chỗ đó, tôi hết sức vui mừng
cảm tạ ơn Chúa. Lòng tôi nhẹ nhõm, lâng lâng hạnh phúc vì sắp gặp lại vợ, lại
sung sướng làm xong nhiệm vụ đối với anh em trong buồng giam.
Sự qua đời của một
con cái Chúa
Giữa mùa đông năm 1985, vào tháng Ba, trời trở rét đậm, cả
ngày trời âm u ảm đạm. Cuộc sống nơi buồng 3 (giam cấp tướng) trong những ngày
nầy bớt sinh động so với những ngày đầy nắng ấm. Ai cũng thích ngồi gần bếp lửa
để sưởi ấm. Bốn anh em Cơ Đốc Nhân chúng tôi (Đoàn văn Quảng, Nguyễn Chấn á, Lê
Trung Trực, Nguyễn Hữu Có) đang quan tâm đến 2 vấn đề: ấy là chị Quảng đang
trên đường ra thăm anh và việc tổ chức buổi nhóm thờ phượng cuối tuần.
...
Ngày thứ 2 đầu tuần lễ, sinh hoạt ở buồng 3 như thường lệ.
Trong khuôn viên giữa 4 bức tường rào quen thuộc vẫn là: tập thể thao, nấu ăn,
tắm giặt, nghĩ ngơi, đọc sách, v.v..
Buổi chiều sau giờ nghỉ trưa, tôi đang ngồi chơi ngoài sân
thì anh Quảng qua chỗ tôi ngồi, anh đùa giỡn với tôi và phấn khởi nói với tôi
chị Quảng sắp ra thăm anh rồi. Sau đó anh về phòng. Chỉ vài phút sau, anh em
trong phòng nhốn nháo la to lên: anh Quảng bị ngất xỉu mau gọi cấp cứu. Tôi chạy
nhanh vào phòng đến chỗ anh Quảng nằm, thì thấy anh đang nhắm mắt, tim không
còn đập, hơi thở cũng không còn nữa, chúng tôi vừa xoa dầu, thoa bóp chân tay
anh, vừa làm hô hấp nhân tạo. Chúng tôi vừa làm vừa theo dõi mong có được một dấu
hiệu hồi sinh. Nhưng dần dần chúng tôi tuyệt vọng vì anh vẫn nằm bất động. Kế
đó, buồng 3 tràn ngập đầy người: Bác sĩ, y tá, cán bộ của trại, bạn bè ở các buồng
khác. Nhưng tất cả đều thất bại. Anh Quảng đã vĩnh viễn ra đi.
...
Hai hôm sau, tức ngày thứ 5, chị Quảng và người con út đến
trại. Anh Vũ Văn Giai và tôi được phép đến nhà thăm nuôi gặp chị Quảng. Chúng
tôi thuật lại sự ra đi của anh Quảng, yên ủi chị trong nước mắt và trao cho chị
di sản hiếm hoi của anh Quảng trước khi chị ra về.
Kỷ niệm đau buồn trên đây, tôi hằng nhớ mãi. Những việc lạ
lùng mà Đức Chúa Trời đã làm khiến cho mắt tôi thấy được sự hiện diện của Ngài
trong mỗi giây phút cuộc đời tôi. Thật Ngài là Đấng Toàn Tri, việc gì chưa xảy
ra thì Ngài đã biết trước.
...
Qua sự việc anh Quãng mà tôi đã chứng kiến, tôi càng vững tiến
niềm tin nơi Chúa, hết lòng tôn thờ và vâng phục theo Ngài. A-Men
Thưa các bạn đọc thân mến,
Sau khi đọc xong bài làm chứng nầy, nếu lòng các bạn thấy
cảm động muốn tin nhận Đức Chúa Jesus Christ làm cứu Chúa của mình, tôi khẩn
thiết nài xin các bạn hãy quyết định ngay để tội lỗi các bạn được tha, linh hồn
các bạn được cứu rỗi, đời sống các bạn được Chúa biến đổi.
....
(Hết trích dẫn)
Tháng 7, 2012
Lữ Giang